LÃNH ĐỨC HẦU ĐẶNG ĐẠI ĐỘ


Lãnh Đức hầu Đặng Đại Độ quê ở làng Cư Triền - huyện Phong Lộc - phủ Quảng Bình (nay là làng Quảng Cư – thị trấn Kiến Giang - huyện Lệ Thủy - tỉnh Quảng Bình). Ông là một vị danh thần, làm quan đến bậc Đại thần với một nhân cách thanh cao, một dũng khí ngời ngợi hiếm thấy trên đời.
Đặng Đại Độ là cháu bốn đời của Liễu Đại hầu Đặng Quý Công, làm quan đến chức Chưởng phủ thự vệ quản lãnh của nhà Lê. Là người tinh thông lý–số nên Liễu Đại hầu chọn vùng đất địa linh - nơi minh quân Lê Thánh Tông đã cho dựng chùa Phật Ngồi trên đường tiến quân về phương Nam năm 1470 - lập làng định cư, khai sinh ra dòng họ Đặng Đại đỗ đạt, làm quan lâu đời, nổi tiếng là những vị quan trung hậu, thanh liêm. Người đứng đầu Quốc sử quán nhà Nguyễn là Phụ chính Đại thần Đông các Đại học sĩ Cao Xuân Dục, cũng là nhà văn hóa lớn của dân tộc đã ca ngợi truyền thống dòng họ này trong Đại Nam Địa dư chí ước biên như sau: 
Đặng Đại thị (họ Đặng Đại) giữ mình trong sạch,
Cha con cùng triều nức tiếng thơm

Thân phụ của Đặng Đại Độ là Đặng Đại Lược (1690-1764) nhờ có tài năng, học vấn nên được bổ vào Văn Chức viện (Hàn Lâm viện). Sau đó được thăng làm Ký lục dinh Bố Chính rồi Cai bạ dinh Quảng Nam (gồm ba phủ là Thăng Hoa, Quảng Ngãi và Quy Nhơn). Sử sách nhà Nguyễn cho biết Đặng Đại Lược là vị quan khí tiết, đức độ, thanh liêm nổi tiếng: làm quan to nhưng cảnh nhà vẫn nghèo khó. Đặng Đại Lược được phong tước Tuy Lộc hầu, Kim tử Vinh Lộc Đại phu, lúc mất được ban thụy Văn Chính. Ông có bảy con trai, tất cả đều đức hạnh vẹn toàn, đỗ đạt và ra làm quan. Ngoài Đặng Đại Độ còn có nhiều người làm quan to trong triều: Khâm sai Tham luận Dượng Trực hầu Đặng Đại Kỷ; Liệt Triều Quang Lộc Đại phu Hàn Lâm viện Bình Thiệu bá Đặng Đại Đồng; Tri phủ Đặng Đại Lượng,...
Bản thân Đặng Đại Độ được Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết là người “nổi tiếng về học hạnh”. Ông đỗ khóa thi Hương Tiến (Cữ nhân), học vị cao nhất xứ Đàng Trong lúc bấy giờ và được bổ vào Văn Chức viện. Đến năm 1748 ông được thăng làm Ký lục dinh Bình Khang.

Xuất thân là văn quan nhưng Đặng Đại Độ lại có tài cầm quân. Năm 1761, Man Thạch Bích ở phía tây Quảng Ngãi nổi dậy chống lại triều đình. Đây là đội quân dũng mãnh, có tổ chức, thiện chiến với lối đánh tập kích bất ngờ đã làm cho quan quân “tưởng thôi lạc phách, nhớ đến kinh hồn” (Sải vãi). Họ dựa vào căn cứ là núi Thạch Bích cao chót vót, vách đá dựng đứng, đường lên khúc khuỷu cheo leo phải vượt qua nhiều vực sâu hiểm trở để chống lại triều đình. Thêm vào đó rừng sâu nước độc cùng lam sơn chướng khí gây ra bao nổi khiếp đảm của quan quân. Chúa lệnh cho ông từ Bình Khang (Khánh Hòa) về cầm quân đánh dẹp. Không phụ lòng tin của chúa, ông đã dẹp tan cuộc nổi dậy của người Man, giữ yên biên cảnh.

Đặng Đại Độ làm quan thanh liêm hiếm thấy. Đại Nam Liệt Truyện cho biết: “ai đưa cho cái gì nhất thiết đều từ chối”. Vì thế người đời khen là "giá trong", là “băng thanh ngọc khiết”, tức là trong như băng, sạch như ngọc. Ở những nơi ông làm việc, kỷ cương phép nước được giữ nghiêm. Kẻ phạm tội dù là quan lại hay thường dân đều được xử lý công bằng theo phép nước nên ông được nhân dân mến yêu, kính phục:
Danh chính trực rạng ngời quan Ký lục
Đuốc công minh sáng rọi chốn quan đường
(Nghệ sĩ Nhân Dân Đinh Bằng Phi)

Nhiều câu chuyện ca ngợi khí phách và tài xử án của ông được nhân dân lưu truyền, đi vào sử sách và sân khấu truyền thống dân tộc. Trong đó có lẽ nổi tiếng nhất là sử trạng được Đại Nam Liệt Truyện chép lại, nội dung như sau:
Có hai viên quan hầu cận chúa đến Biên Hòa làm việc công. Cậy thế là người tâm phúc của chúa nên chúng vô cùng hống hách, làm nhiều điều trái phép với dân. Đặng Đại Độ tiến hành điều tra rồi thăng đường xử án. Với chứng cứ rành rành, chúng phải cúi đầu nhận tội. Yêu dân phải lấy việc diệt trừ cái ác làm đầu nên ông đã ra lệnh xử tử chúng ở cửa chợ Biên Hòa.
Xử xong ông tự mặc áo đơn, đeo gông ngắn, đi bộ về kinh xin nhận tội. Người con đi theo thấy cha dãi nắng dầm sương, muốn thuê võng cáng nên nói:
- Chừng nào về đến kinh đô sẽ hay, còn bây giờ cha nên lên võng mà đi.
Ông nói:
- Lại có hạng tội nhân mong được nhàn hạ ư ?
Đi ròng rã hơn một tháng trời mới về đến kinh đô Phú Xuân (Huế). Ông đến Bộ Hình trình bày sự việc rồi xin vào ngục đợi tội. Bộ Hình đem việc tâu lên, xem xét xong chúa cho vời vào. Thấy ông không mang theo triều phục, chúa ban cho mũ áo. Đặng Đại Độ xin chịu tội. Chúa bảo rằng:
- Khanh có tội gì, mà tự lao khổ thế ? Trước kia ta sai đi chọn một vài con hát để tiêu khiển lúc rỗi, không ngờ lũ tiểu nhân đi ra, cậy thế ức hiếp người ! Khanh giết đi là phải. Có tội gì đâu. Vậy bỏ qua việc ấy đi.

Sau đó chúa thăng Đặng Đại Độ làm Khâm sai tuần hành ngũ phủ (Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận) kiêm Tuần phủ Gia Định, được quyền bãi hay thăng chức quan lại ở sáu phủ trên.

Lúc này, Đàng Trong chỉ có 11 dinh, mỗi dinh quản lý một phủ, riêng dinh Quảng Nam quản ba phủ. Chúa cho phép ông bãi hay thăng chức quan lại gần một nữa giang sơn, điều đó cho thấy chúa tin tưởng vào tài năng và nhân cách ông đến mức nào. Tuy trở thành vị đại thần uy danh lừng lẫy nhưng Khâm sai Đặng Đại Độ vẫn rất mực giản dị, khiêm nhường, hết lòng tận tụy với việc nước, việc dân. Thật đáng tiếc, ở cương vị mới chưa được bao lâu thì ông đã qua đời lúc mới 37 tuổi. Chúa tiếc thương, ban thụy Trung Cần.

Là một vị quan văn võ song toàn, công minh, đầy dũng khí nên các học giả đánh giá rất cao về ông. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn cho rằng: “hình tượng Đặng Đại Độ gần với hình tượng Bao Công”, và khen ông là “người trung trực hiếm thấy trên đời, soi sáng muôn đời”. GS. Trần Văn Giàu đánh giá Đặng Đại Độ là vị quan “chính trực hiếm hoi” của những năm thuộc nửa sau thế kỷ 18. Còn GS Nguyễn Khắc Thuần viết: “Vì mục đích an dân, Đặng Đại Độ sẵn sàng nghiêm trị bất cứ một ai dám nhũng nhiễu dân. Thế ra, phép nước nghiêm hay không nghiêm, trước hết đều do ở người thực thi phép nước. Cổ kim vẫn có không ít những vị quan dũng cảm, dám vì công lý mà to gan đụng độ với các đấng quan trên; nhưng nghiêm với chính mình và tự xử chính mình như Đặng Đại Độ, quả thật là rất hiếm”.

Dù cuộc đời của Đặng Đại Độ đã vĩnh viễn khép lại từ lâu nhưng khí khái của ông vẫn vang danh trong sử sách và vĩnh tồn trong lòng dân. Trong “Đại lễ kỷ niệm 300 năm Sài Gòn – Gia Định (1698-1998)”, hình ảnh ông được tái hiện trong vỡ diễn “Dũng khí Đặng Đại Độ” đã gây nhiều cảm xúc cho xem và đã trở thành một trong những vỡ diễn tiêu biểu của nền sân khấu Việt Nam. Ngày nay, ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,… đã có đường mang tên ông.

                                                                Thanh Hải

Chủ bút: Hỗn Tạp Blog

Hỗn tạp blog, blog lưu giữ tất cả các bài viết hay trên mạng internet, từ tin tức công nghệ, cho đến sức khỏe, làm đẹp. Từ thủ thuật blogger cho đến Facebook

Có thể bạn sẽ thích

Có 0 nhận xét Đăng nhận xét