Hiển thị các bài đăng có nhãn Kĩ năng sống. Hiển thị tất cả bài đăng

TÌNH YÊU SINH VIÊN


Tình yêu thời sinh viên là một thực tế không thể lãng tránh. Cũng đã có nhiều bài viết, nghiên cứu về vấn đề này và cho nhiều lời khuyên. Người thì nói chưa nên, vì nghề nghiệp chưa có, điều kiện đảm bảo cuộc sống chưa có, ra trường mỗi đứa một ngã, biết bao trắc trở, hãy dành thời gian cho học tập. Người thì nói, tình yêu là lẽ tự nhiên, nó là một phần của cuộc sống, một trải nghiệm lối sống, có sao đâu. Các bậc phụ huynh thì tỏ ra lo lắng, bởi tình yêu thời @ đã để lại bao nhiêu câu chuyện khóc dở, mếu dở. Bởi các bạn trẻ bây giờ dễ dãi, đơn giản quá, tình dục quá. Còn các cô tú, cậu tú thì đang trong giai đoạn bản lề của hoàn thiện nhân cách, chưa đủ bản lĩnh của người lớn, cảm tính, phổi bò, có khi liều mạng, không cần xét hậu quả. Đây đó vẫn có những kẻ sở khanh, hậu hoạ khôn lường. Đã có nhiều vụ án đau lòng có xuất xứ từ chuyện tình sinh viên. Vậy nên nhìn nó thế nào. 

1. Chuyện tình yêu trong giới sinh viên là một hiện thực không thể lẩn tránh. 

Tuyệt đại đa số sinh viên yêu khi đang học. Trên thực tế thì nhiều em đã yêu và biết làm chuyện người lớn từ khi đang học PTTH. Sinh viên không yêu mới là chuyện dị thường. 

Cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên ở đây cả, bởi giai đoạn này là giai đoạn thăng hoa, phát tiết tình dục của giới trẻ. 

Thời kỳ hoàng kim, phơi phới, rạng rỡ đến mức không thể che đậy được và rất mời gọi. Con trai, con gái 17, 18 mơn mỡn, đẹp xinh, dẫu có mặc áo rách cũng đẹp. 

Nhu cầu giao tiếp khác giới rất mạnh mẽ đến mức cuồng, sy. Khi đã hẹn hò thì dẫu ở trong cùng một kí túc xá, khu nhà trọ nhưng mỗi ngày không nhìn thấy mặt nhau vài lần, không được chạm vào cơ thể nhau một chút là về ngủ không yên. 

Bối cảnh sinh hoạt thì thuận lợi, họ thoát ra khỏi sự kiểm soát của gia đình, chẳng phải xin phép ai khi đi chơi đêm, chẳng phải ngại ngần bà con lối xóm như khi ở quê. 

Họ có môi trường giao tiếp mới đa dạng, giao lưu, hội thảo, du hí, sinh nhật… rất nhiều bạn bè, chẳng giống thời học trò. 

Lý lẻ yêu đương nhiều khi rất đơn giản, “chẳng lẽ nó có mà mình không có”. Không ngăn được, không hãm được tình yêu đâu. 

2. Yêu đương nên biết, ảnh hưởng của nó đến bản thân là rất lớn. 

Có hai xu hướng tiến triển, một là tình yêu sẽ trở thành chất xúc tác để bạn trẻ học hành tốt hơn mỗi khi chuyện yêu đương vượt qua khỏi khái niệm tình dục tầm thường. Hai người sẽ trở thành đôi bạn học tập, nâng đỡ nhau để đạt đến mục tiêu chuyên môn cao - sinh kế của ngày mai. 

Xu hướng thứ hai là, tình yêu sẽ phân tán tinh lực, lãng phí thời gian, tụt dốc lối sống, tình cảm bị động. Thực tế cho thấy xu hướng thứ hai nhiều hơn. Bởi khi yêu người ta thường si mê, lú lẫn. Tâm trí luôn hướng về người yêu, vướng mắc, chẳng yên. Lúc nào cũng muốn bên nhau nên học hành chểnh mảng. 

Tình phí không có thì phải xoay xở, đôi khi rớt vào vòng xoáy lô, đề, nói dối bố mẹ… 

Với những bạn đã nếm trái cấm thì ma lực của nó càng mạnh hơn, không cưỡng được. 

3. Sai lầm về nhận thức khi yêu. Những sai lầm đó bộc lộ qua mấy điểm 

-Lầm tưởng có cảm tình với tình yêu. Đôi khi bạn thích một điều gì đó và vô tình bắt gặp cái đó ở người kia. Có khi rất đơn giản, đó là búi tóc đuôi sam ngúng nguẩy, đó là cái cách đi vừa đi vừa nhảy, đó là cách nói chuyện mà mắt nhìn xuống chân di di vạt cỏ, đó là một nụ cười lóe lên sau ánh đèn… Nhiều lý do để bạn bị vướng vào lưới tình, khi mà đã có sẵn lực hút của khác giới. Thế là bạn yêu, yêu là yêu chứ biết đi về đâu. 

- Coi tình yêu như phương thuốc giải sầu, an ủi tâm hồn trống vắng. Hoặc chạy theo mốt, họ có mình cũng phải có chứ kém cạnh gì. Cái cách mà chỉ đề làm vừa lòng mọi người mà thôi. Có một thời người ta đã quan niệm tình yêu sinh viên là VLC, chữ viết tắt của từ “vui là chính”. Lối sống đó đã làm nhiều bạn chết dở vì sau khi chia tay, tai tiếng cứ theo mãi, “ế”. 

4. Thời kỳ hợp lý cho yêu đương. 

Hơi duy tâm một tý, nhưng nên thế. Bạn nên biết rằng, đời sinh viên có 3 giai đoạn phát triển đáng lưu ý. 

Gia đoạn 1, là giai đoạn của năm đầu. Có thể gọi nó là giai đoạn quá độ, thích ứng. Bạn phải làm quen với lối sống tự lập, xa bố mẹ, sống tập thể, lệ thuộc vào nhau, làm quen với phương pháp học tập mới (tự học là chính), làm quen với khí hậu, sinh họat, ăn uống… Đặc biệt là bạn phải tự mình giải quyết lấy, trong lúc vừa thoát khỏi đời học sinh phổ thông, còn rất ngỡ ngàng, thậm chí lo sợ. 

Giai đoạn 2, là giai đoạn từ năm thứ 2 đến năm thứ 4. Đây là giai đoạn phát triển khá ổn định, khẩn trương, sôi nổi, vững vàng về tâm sinh lý, hình thành ý thức nghề nghiệp. 

Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn chuẩn bị tốt nghiệp ra trường, toan tính cho tương lai. 

Tôi không khuyên bạn yêu vào lúc nào, nhưng nên tránh vào năm đầu. Khi đó ta còn non nớt lắm, dễ tổn thương. Tôi chỉ khuyên bạn nên hiểu sự khác nhau giữa tình bạn khác giới và tình yêu. Yêu là có mục đích để xây dựng gia đình, để đi đến hôn nhân. Ta sẽ gắn bó cả đời với nó, nên phải tỉnh táo một chút. Đừng để những trắc trở làm thui chột lãng mạn, làm chia lìa tình yêu. 

Có lẽ thời cơ tốt cho tình yêu là khi bạn có sự từng trãi xã hội, ổn định tâm, sinh lý, độc lập về kinh tế.

BỨC THƯ GỬI MUỘN

Ngọc Tuân

                                                                         Mùa hoa phượng
Kính gửi cô của em.

Khi đã trở thành thầy giáo em càng nhớ đến cô nhiều hơn. Bởi hôm nay, vây quanh em là lớp trẻ ngây thơ, hồn nhiên, bốc đồng, bồng bột, quỷ quái. Chúng làm em vui cũng nhiều mà buồn cũng lắm. Chúng làm em hân hoan vì thành công và cũng hoang mang lo lắng khi có đứa vấp ngã. Chúng làm em hưng phấn ngạc nhiên trước năng lực vượt trội so với em lúc bằng tuổi chúng và cũng làm em mất ngủ vì sự ngờ nghệch, ngu ngốc của chúng khi đối mặt với với cuộc sống đầy cám dỗ của thời hiện đại… Và mỗi lần sok vì chúng càng làm em nhớ đến cô.

Cô ơi, kĩ niệm tuổi học trò, kĩ niệm về thầy cô, bạn bè trong em, và chắc cả lớp lứa tuổi của em hầu như rất mờ nhạt, vì từ ngày cắp sách đến trường cũng là thời chiến tranh. Trên trời máy bay quần đảo, ngoài biển pháo hạm của địch bắn cầm canh theo tọa độ, pháo sáng biến đêm thành ngày. Ở nơi nào đó, trong đêm tối mà lỡ lóe lên ánh đèn là lập tức máy bay bâu đến. Ngủ hầm, đi học từ ba giờ sáng – giờ ít máy bay ném bom nhất – đứa thì vai khoác vòng lá ngụy trang, đứa thì vai quàng tấm vải màn nhuộm lá mướp ngọt xanh biếc. Tay thì xách cái đèn dầu hỏa có cái bóng đèn thủy tinh được sơn đen, chỉ chừa một lỗ tròn đủ rọi ánh sáng vào trang vở. Mỗi khi có tiếng máy bay là vội vàng che kín lại. Cái ngọn đèn ấy, để rọi vào sách vở thì ít nà để học trò nổ thóc nếp thì nhiều. Đi qua cánh đồng đang chín, đứa nào cũng ngắt vài bông. Đến lớp, khi đèn thắp lên là thò nhánh lúa vào ngọn lửa. Mỗi lần hạt thóc nổ, đèn tắt, lại phải châm lại. Bởi vậy mà kiến thức vào được đến đầu là một kỳ tích. Trong đêm tối, gương mặt thầy cô, bạn bè cũng chập chờn vậy thôi. Cô trò nhớn nhác lo tránh bom, tránh đạn, lo cái đói thâm niên. Nói là học nhưng tất tần tật chỉ chép chung vào một quyển vở, cuộn lại, nhét túi quần, lúc nào cũng nhàu nát.

Trong cái tối tăm ấy, nếu không có cô, chắc em cũng chỉ trưởng thành đến bậc lính chiến ngoài mặt trận mà thôi. Rồi cũng nằm lại đâu đó trong Trường Sơn bạt ngàn như bao đứa cùng trang lứa. Điều khác lạ là, ơn cô đến với em không phải từ sự cảm động, ngưỡng mộ như bao người khác, mà đến từ sự ác cảm. Điều này bây giờ em mới nói ra.

Cái năm giữa cấp hai ấy, cô bắt đầu về làm chủ nhiệm lớp em. Lúc đó, đang giữa thời chiến tranh ác liệt, khó khăn. Đang tuổi lớn chúng em cứ cao vồng lên trông thấy, nghịch ngợm, phá phách, liều mạng. Học hành thì đứa nào cũng sa sút. Đang từ một đứa giỏi toán từ cấp một, em tụt xuống loại kém vì bỏ học, vì không làm bài tập, vì đủ thứ. Lần đó, cô đến nhà để nói chuyện với bố mẹ em về chuyện học hành của em. Em vẫn nhớ như in cái đêm sáng trăng hôm đó, đang chơi đánh trận giả với lũ bạn, chợt thấy bóng cô đầu ngõ, linh cảm mách bảo chắc có chuyện không hay, em đã bí mật chạy theo sau cô. Khi thấy cô rẻ vào nhà, em đã vội chui qua bờ râm bụt, nấp sau nhà, ép tai vào vách liếp để nghe. Trong ánh đèn dầu lờ mờ, tiếng cô rất rành rẽ khi nói chuyện với bố mẹ.

-Tôi thông báo với anh chị, tình hình học tập của T rất bi đát, kiến thức lơ mơ, lười học thuộc lòng, môn toán là khá nhất thời cấp một, bây giờ chỉ đạt trung bình, nhiều lần bị điểm kém. Năm nay đã lớp 6, sang năm là kết thúc cấp hai, lên cấp ba, nếu cứ thế này thì... Sau đó là những gì cô nói em chỉ nghe ong ong trong đầu. Tự dưng em ghét cô.

Chắc cô thù mình rồi, vì sao nhỉ? Tại tôi bày trò nổ thóc, tại tôi hay bày trò thi nhổ nước bọt, thi xì mũi ai xa nhất... Cả lớp mình thằng nào chẳng thế, sao cô lại đi mách với bố mẹ em. Từ trước tới nay, bố mẹ em chỉ quen với lời khen vì có đứa con học giỏi. Nước này thì em bị ăn đòn là chắc. Lúc đó em đã nảy ra một diệu kế để tránh đòn. Nhà có căn hầm chữ “A” tránh bom, cùng là góc học tập của em. Ở đó có một cái túi bài kiểm tra trên lớp. Nhanh như chớp, em đã chui cửa sau vào hầm, đốt đèn lên, vớ lấy túi bài, xổ túi ra, nhặt hết những bài có điểm kém. Những bài điểm khá và trung bình được cho lại vào túi, lại còn cẩn thận xếp hai bài điểm khá hiếm hoi lên trên cùng. Xong xuôi, em lặng lẽ cầm số bài kém ra vườn, dí xuống góc ao, rồi chạy đi chơi tiếp.

Quả đúng như em dự đoán, sau khi cô về, bố đã đi tìm em. Mà cũng chẳng cần tìm vì em đã lởn vởn ở đầu ngõ. Bố bảo, T về nhà ngay bố hỏi chuyện. Em lon ton chạy về, giả vờ như không biết gì. Vừa vào đến nhà, bố đã rút cái roi mây giắt trên cánh cửa đánh roạt hỏi:

- Mi học hành ra răng mà cô chủ nhiệm đến kêu là dốt nát, hư hỏng.

Không biết cô có nói vậy không, nhưng khi bố em tóm tắt như vậy bỗng dưng em khóc. Mà khóc thật, không phải khóc vì sợ đòn mà khóc vì tức cô. Ngay lập tức em đã điêu toa như một kịch bản học thuộc:

- Cô thù con vì con đánh con cô chứ con đâu có dốt.
- Mi nói cấy chi, răng mi đánh con cô? Bố tôi quát.
- Vì nó xì mũi vào tóc con, gỡ mãi mới hết.

Câu này tự dưng nó bật ra, chắc vì hàng ngày em vẫn chơi trò xì nước mũi vào đầu nhau. Tụi bạn trong lớp luôn sợ em vì em lúc nào cũng thò lò mũi. Nghe câu nói ấy, tự dưng khuôn mặt đỏ bừng vì tức giận của bố em chùng xuống. Rất nhanh, em tấn tới:

- Bố mẹ không tin thì chờ con đi lấy túi bài kiểm tra cho xem.

Em chạy lại, chui tọt xuống hầm, cầm tập bài mỏng dính lên, đưa cho ông rồi dõng dạc:

- Đây, bố mẹ xem đi.

Mẹ từ nãy tới giờ chỉ ngồi, trân trân nhìn hai bố con, với tay cầm lấy túi bài đổ ra bàn. Trên cùng là 2 con 7 đỏ chói, sau đó toàn là 5, 6 cuối cùng là con 8 – của hiếm môn sinh vật chép được- Vậy là cây roi trên tay bố em dược hạ xuống. Mặc dù vậy ông vẫn vớt vát:

- Anh liệu cái thần hồn anh đấy, học hành mà lơ mơ là chết với tôi. Rồi ông bỏ đi.

Khác với bố, lúc nào cũng ồn ào, mẹ rất ít nói nhưng lại rất tinh tế. Mẹ kéo em lại gần, tay vơ đám bài kiểm tra cho vào túi. Cái túi mỏng dính, oặt oẹo trên tay, mẹ nói:

- Thôi con, chắc bố và cô hiểu lầm con thôi, Mẹ thấy thế này thì con đâu có kém. Mẹ biết con thông minh, con học được mà. Cuối năm, con mẹ sẽ là học sinh tiên tiến cho coi. Con hứa với mẹ nhé. Cô có để lại cho con tập tài liệu này, dặn mẹ đưa cho con và nói con cố mà đọc.

Em ngoan ngoãn, vâng ạ. Đâu biết mẹ nói mát mẻ vậy để khích lệ tôi thôi chứ mẹ biết tỏng.

Ngày hôm sau đến lớp, em đã không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Tự dưng vậy thôi. May mà có bóng tối làm đồng minh, chắc cô không nhận ra. Nhưng mỗi lần bị cô gọi hỏi bài trên lớp là mỗi lần em giật thót. Mà hình như cô gọi em nhiều hơn thì phải. Cô ghét em. Mong sao cho nhanh hết tiết của cô. Ý nghĩ ấy cứ bám riết lấy trong đầu, làm em cứ nơm nớp lo sợ. Biết đâu câu chuyện giữa em với bố mẹ đã đến tai cô. Em cứ bị ám ảnh như vậy cho đến hết lớp 7.

Nói cho công bằng, sau đó em đã học khá lên. Trước là để đối phó với kiểu hỏi bài liên miên trên lớp của cô thay cho kiểm tra vở. Mà có gì trong vở đâu để kiểm tra. Sau là nhờ tập tài liệu “Tóm tắt toán học” mà cô đã cẩn thận chép tay để lại. Em đã nghiền nó đến thuộc lại cả những kiến thức của lớp dưới. Làm được bài tập, càng làm được càng thích được làm, được thể hiện với bạn bè mỗi khi được gọi lên bảng. Trong đó có một phần kiêu hãnh để cho cô biết, em không dốt.

Năm lớp 7 trôi qua lúc nào chẳng biết. Em được xếp loại học sinh tiên tiến, được lên cấp ba. Chiến tranh, trường cấp ba đi sơ tán tận Tuyên Hóa. Lại lao động dựng trường, làm hầm trú ẩn, đi gùi gạo muối xa hàng chục cây số. Lại đói, ghẻ lở, bệnh tật... Em đã quên cô lúc nào không biết.

Rồi những năm tháng cấp ba cũng qua đi, em được vào đại học. Nghỉ hè năm ấy, về thăm nhà. Hôm rảnh rỗi, ngồi mở lại gói đồ thời học trò, em bắt gặp lại tập tài liệu chép tay “Tóm tắt toán học”. Tự dưng lòng em chùng xuống, em đã ôm nó lên ngực, nước mắt trào ra, nhớ cô. Đến bấy giờ em mới đủ trí khôn để nhận ra rằng, tập tái liệu này đã cứu mình ra khỏi vũng lầy thời thơ ấu. Nó đã chắp cánh cho mình vượt lên. Hôm đó, em đã rất mong bố mẹ về để hỏi thăm về cô.

Chiều đó, trong bửa cơm chiều, mẹ nói rằng, cô chuyển lên dạy ở một trường vùng núi trong huyện. Hè năm con đang học lớp 8, chồng cô hi sinh ở chiến trường Quảng Trị. Sau lễ truy điệu ít lâu cô xin chuyển lên trên đó mặc dầu chính sách hậu phương cho cô quyền được chọn trường. Cô đi với đứa con trai duy nhất của mình, đi như trốn chạy kĩ niệm. Từ khi đó bố mẹ cũng không biết gì thêm về cô, chiến tranh mà.

Đêm đó, hầu như em không ngủ, gió nam thổi ào ạt trên mái nhà, trên cây lá. Phía Trường Sơn pháo sáng vẫn chập chờn. Bom vẫn nổ đâu đó phía đường 15. Sáng hôm sau, em xin mẹ mười lon gạo nếp, thứ hiếm hoi còn được trong nhà, mượn cái xe đạp của bố, đi tìm cô. Mẹ buộc gạo sau xe cho em cứ dặn đi dặn lại, cảnh giác máy bay nghe con, đi nhanh về. Em đạp xe lên phía Miền Tây, qua đò Thượng Phong, ven bờ Kiến Giang ngược lên thượng nguồn.

Hỏi mãi người ta mới chỉ cho em mái nhà tranh nhỏ mé đồi, gần trường cấp hai của xã. Em dắt xe theo lối mòn, leo lên dốc, qua một vạt sắn đến giữa sân. Căn nhà nhỏ một gian hai chái, bốn bề cũng được tráp bằng tranh. Nhà không có người, em cất tiếng gọi: Cô ơi. Có tiếng đáp từ sau vườn, ai đấy, chờ chút. Trên bàn thờ ở gian giữa khói hương nghi ngút, bất chợt mắt em dừng lại ở tấm ảnh bé xíu trong khung đen. Chân em như muốn khuỵu xuống, thằng An con cô. Như một dòng điện chạy qua cơ thể, em sởn da gà, mồ hôi rịn ra. Vừa lúc cô từ sau vườn bước vào. Nhìn thấy em, cô sững lại, nấc lên, T đấy à con, An đi rồi, bị trúng bom trên đường đi học. Em buông túi gạo, nhào đến, ôm lấy cô nước mắt tuôn trào. Trong tay em, cô như một tàu lá héo, khô kiệt nhựa sống. Em đã quỳ xuống, úp mặt vào lòng cô nức nở: 

- Cô ơi, con về đây, con có lỗi với cô.

Cô ơi, tha lỗi cho con nhé, đến bây giờ con vẫn giữ tập tài liệu chép tay của cô như một vật báu.


LỊCH XUẤT HÀNH CỦA KHỔNG MINH


LỊCH XUẤT HÀNH CỦA KHỔNG MINH
(Tính theo âm lịch)
Tháng 1, 4, 7, 10:
Bảo thươngĐạo tặcThuần dương1.Ngày thuần dương: Cũng tốt, có nhiều thuận lợi, được nhiều người giúp đỡ. Cầu tài được như ý muốn. Tranh luận nhiều thắng lợi.
2. Ngày đạo tặc: Rất xấu, xuất hành bị hại, mất của.
3. Ngày bảo thương: Xuất hành thuận lợi, gặp người lớn vừa long, làm việc theo ý muốn, áo phẩm vinh quy.
4. Ngày đường phong:Rất tốt, xuất hành thuận lợi, cầu tài được như ý muốn, áo phẩm vinh quy.
5. Ngày kim thổ: Ra đi nhỡ tàu xe, cầu tài không được. Trên đường bị mất của, bất lợi.
6.Ngày kim đường: Xuất hành tốt, có quý nhân phù trợ. Tài lộc thông suốt, thưa kiện có lẻ phải.
654
121110
181716
242322
302928
Đường phongKim thổKim đường
123
789
131415
192021
252627

Tháng 2, 5, 8, 11
Thiên mônThiên đườngThiên tàiThiên tặc1.Thiên đạo: Xấu, cầu tài nên tránh, dù được cũng mất mát, tốn kém, thất lý mà thua.
2. Thiên môn: Tốt, mọi việc đều vừa ý, cầu được, ước thấy, mọi việc đều thong đạt.
3. Thiên đường: Tốt, có quý nhân phù trợ, buôn bán may mắn, mọi việc đều như ý.
4. Thiên tài: Tốt, cầu tài nhiều thắng lợi, được người giúp đỡ, mọi việc đều như ý.
5. Thiên tặc: Xấu, cầu tài không được, đi đường mất cắp, mọi việc đều xấu.
6. Thiên dương: Tốt, cầu tài được tài, hỏi vợ được vợ, mọi việc như ý.
7. Thiên hầu: Xấu, hay cãi cọ, tránh tai nạn chảy máu.
8. Thiên thương: Tốt, gặp cấp trên đại lợi, cầu tài thì được, mọi việc thuận lợi.
2345
10111213
18192021
26272829
Thiên đạoThiên thươngThiên hầuThiên dương
1876
9161514
17242322
25

30

Tháng 3, 6, 9, 12.
Bạch hổ đầuBạch hổ kiếpBạch hổ túcHuyền vũ1.Bạch hổ đầu: Tố, cầu tài đều được, mọi việc thong đạt.
2.Bạch hổ kiếp: Tốt, cầu tài được như ý
3. Bạch hổ túc: Xấu, cấm đi xa, việc gì cũng không thành.
4. Huyền vũ: Xấu, Gặp việc xấu, hay cãi cọ.
5. Chu tước: Xấu, hay mất của, kiện cáo đuối lý.
6. Thanh long đầu: Tốt, xuất hành nên từ sang sớm, cầu tài thắng lợi, mọi việc như ý.
7. Thanh long kiếp: Tốt, trăm sự như ý.
8. Thanh long túc: Xấu, hông nên đi xa, hông có tài lộc, kiện cáo đuối lý.
2345
10111213
18192021
26272829
Chu tướcThanh long túcThanh long kiếpThanh long đầu
1876
9161514
17242322
25

30

LỤC NHÂM TƯỚNG PHÁP
(Cánh tính giờ xuất hành của Lý Thuần Phong)

Cánh tính: (ngày âm + tháng âm + khắc giờ định đi) – 2 : 6 = kết quả (số dư), tra bảng sẽ có nội dung để cân nhắc.
Ví dụ: ngày 21 tháng 4 âm lịch, định đi lúc 7h15 (thuộc khắc 5), vận dụng công thức ta có: (21+ 4+ 5)- 2 = 28; lấy 28: 6 = 4 (tức dư 4). Tra vào bảng thì là giờ Xích khẩu, nên tránh.

Từ 11h đến 1h là khắc 1
Từ 1h   đến 3h là khắc 2
Từ 3h   đến 5h là khắc 3
Từ 5h   đến 7h là khắc 4
Từ 7h   đến 9h là khắc 5
Từ 9h   đến 11h là khắc 6

- Số dư 1 (giờ đại an)
Mọi việc đều tốt lành, cầu tài thì đi hướng Tây Nam. Nhà cửa yên lành, người đi bình yên.
- Số dư 2 (giờ tốc hỷ)
Vui sắp tới. Cầu tài đi hướng Nam. Đi việc gặp gỡ các quan nhiều may mắn. Chăn nuôi đều thuận lợi. Người đi có tin về.
- Số dư 3 (giờ lưu niên)
Nghiệp khó thành. Cầu tài mờ mịt. Kiện cáo nên hoãn lại, người đi chưa có tin về, hay mất mát, phòng ngừa cãi cọ, miệng tiếng. Công việc hơi chậm nhưng làm gì đều chắc chắn.
- Số dư 4 (giờ xích khẩu)
Hay cãi cọ, gây chuyện đói kém, phải đề phòng mà hoãn lại. Phòng ngừa người nguyền rủa. Tránh lây bệnh.
- Số dư 5 (giờ tiểu các)
Rất tốt lành, đi thường gặp may mắn, buôn bán có lời, phụ nữ có tin mừng, người đi xa sắp về nhà, mọi việc đều hòa hợp, có bệnh sẽ khỏi, người nhà đều mạnh khỏe.
- Số dư 0 (giờ tuyệt lộ)
Cầu tài không có lợi, hay bị trái ý, ra đi gặp nạn, việc quan phải đòn, gặp ma quỷ cúng lễ mới an.


THƯỚC LỖ BAN


Trong nhiều loại thước “Địa lý” để sử dụng vào việc xây dựng và nhiều việc khác, có thước LỖ-BAN  và được mọi người yêu chuộng nhất, vì qua hàng ngàn năm sử dụng người ta thấy nó rất đúng với những gì trong thước đã nói. 
Vậy Lỗ Ban là ai:
Lỗ Ban, họ Công Thâu (Du) tên gọi là Ban, người nước Lỗ đời Xuân Thu (hiện thuộc tỉnh Sơn Đông). Vì ông là người nước Lỗ, cho nên mọi người đều gọi ông là Lỗ Ban. Ông là một người thợ nổi tiếng thời cổ đại và cũng là một nhà phát minh xuất sắc. Hàng ngàn năm nay, thợ mộc và thợ xây dựng đều tôn thờ ông như một vị tổ sư, ngày vía là 13 tháng 6 Âm lịch. 
Thước Lỗ Ban (52cm) và ý nghĩa của nó:
Chiều dài chính xác của thước Lỗ-Ban này là 520 mm.
Được chia ra làm 8 cung lớn : Theo thứ tự từ cung Quý nhân, Hiểm họa, Thiên tai, Thiên tài, Nhân lộc,Cô độc, Thiên tặc, Tể tướng. Mỗi cung lớn dài 65 mm.
Mỗi cung lớn lại được chia ra làm 5 cung nhỏ. Mỗi cung nhỏ dài 13 mm.
Ý nghĩa của các cung như sau:
1- Cung Quý nhân: Nhất tài mộc cuộc (tốt).
Cung QUÝ NHÂN còn có tên là Nhất tài mộc cuộc (thuộc mộc), gồm có năm cung nhỏ là:   Quyền lộc- Trung tín- Xác quan- Phát đạt- Thông minh.
Có nghĩa, đo được cung QUÝ NHÂN thì gia cảnh sẽ được khả quan, có người giúp đỡ, quyền thế, lộc thực tăng, làm ăn luôn phát đạt, người ăn ở bạn bè trung thành, con cái thông minh trên đường học vấn. Nhưng chớ quá tham lam, làm điều bất chính thì sẽ bị mất hết.
2- Cung Hiểm họa: Nhị bình thổ cuộc (xấu).
Cung HIỂM HỌA còn có tên Nhị bình thổ cuộc (thuộc thổ), gồm có năm cung nhỏ là:   Tán thành- Thời nhơn- Thất hiếu- Tai họa- Trường bịnh.
Có nghĩa, đo vào cung HIỂM HỌA thì gia cảnh sẽ bị tán tài lộc, trôi giạt tha phương mà sống vẫn thiếu hụt, con cháu dâm ô hư thân mất nết.
3-  Cung Thiên tai: Tam ly thổ cuộc (xấu).
Cung THIÊN TAI còn có tên là Tam ly thổ cuộc (thuộc thổ), gồm có năm cung nhỏ là: Hoàn tử- Quan tài- Thân bệnh- Thối tài- Cô quả.
Có nghĩa, đo vào cung THIÊN TAI thì gia cảnh coi chừng đau ốm nặng, chết chóc, mất của, cô độc, vợ chồng xung khắc, con cái gặp nạn.
4-     Cung Thiên tài: Tứ nghĩa thủy cuộc (tốt)
Cung THIÊN TÀI còn có tên Tứ nghĩa thủy cuộc (thuộc thủy), gồm có năm cung nhỏ là:   Thi thơ- Văn học- Thanh quý- Tác lộc- Thiên lộc.
Có nghĩa, đo được cung THIÊN TÀI thì gia cảnh rất tốt, chủ nhà luôn luôn may mắn về tước lộc, con cái được nhờ và hiếu thảo. Cuộc sống luôn luôn được ăn ngon mặc đẹp, tiền bạc vô đều.
5- Cung Nhân lộc: Ngũ quan kim cuộc (tốt).
Cung NHÂN LỘC còn có tên Ngũ quan kim cuộc (thuộc kim), gồm có năm cung nhỏ là:   Tử tôn- Phú quý- Tấn bửu- Thập thiện- Văn chương.
Có nghĩa, đo được cung NHÂN LỘC thì gia cảnh có nghề nghiệp luôn luôn phát triển tinh vi đắc lợi, con cái học giỏi, gia đạo phú quý, tuổi thọ.
6- Cung Cô độc: Lục cước hóa cuộc (xấu).
Cung CÔ ĐỘC còn có tên Lục cước hóa cuộc (thuộc hỏa), gồm có năm cung nhỏ là: Bạo nghịch- Vô vong- Ly tán- Tửu thực- Dâm dục.
Có nghĩa, đo vào cung CÔ ĐỘC thì gia cảnh bị hao người, hao của, biệt ly, con cái ngổ nghịch, trác táng, tửu sắc vô độ đến chết.
7-    Cung Thiên tặc: Thất tai hỏa cuộc (xấu).
Cung THIÊN TẶC còn có tên Thất tai hỏa cuộc (thuộc hỏa), gồm có năm cung nhỏ là:   Phòng bịnh- Chiêu ôn- Ôn tai- Ngục tù- Quan tài.
Có nghĩa đo vào cung THIÊN TẶC thì gia cảnh nên đề phòng bệnh đưa đến bất ngờ, tai bay họa gởi, ngục tù, chết chóc. Phải sửa cửa ngay.
8- Cung Tể tướng: Bác bời thổ cuộc (tốt).
Cung TỂ TƯỚNG còn có tên Bác bời thổ cuộc ( thuộc thổ), gồm có năm cung nhỏ là: Đại tài- Thi thơ- Hoạnh tài- Hiếu tử- Quý nhân.
Có nghĩa, đo được cung TỂ TƯỚNG thì gia cảnh được hanh thông đủ mọi mặt: con cái, tiền tài, công danh, sinh con quý tử, thông minh, hiếu thảo. Gia chủ luôn được may mắn bất ngờ.
Cung 1, 4, 5, 8 là cung Bụng (thuộc dương).
Cung 2, 3, 6, 7 là cung Nút (thuộc âm).
Những đồ dùng, vật dụng làm bằng gỗ từ lớn đến nhỏ nên lưu ý chọn cung tốt.
Ngày nay, vật liệu mới đã dần thay thế tre, gỗ. Song khi thiết kế cần lưu ý đến kích thước Lỗ Ban để tránh hiểm họa do sơ ý không đáng có.

KỸ NĂNG SỐNG VÀ HỌC ĐẠI HỌC

Ngọc Tuân

(dành cho các bạn sinh viên năm thứ nhất)

Đời sinh viên có ba thời kỳ phát triển rất quan trọng, có tính quyết định đến nhân cách con người. Đó là thời kỳ thích nghi (thường là năm đầu), thời kỳ phát triển tài năng (từ năm thứ 2 đến trước khi ra trường), thời kỳ thứ ba trưởng thành, cất cánh (thường là năm cuối). Mỗi thời kỳ nói trên có những đặc điểm khác nhau chi phối con đường hình thành nhân cách của bạn. Nhận thức được nó, chủ động lựa chọn cách ứng xử tốt sẽ giúp bạn thành công. Còn ngược lại, bạn sẽ rơi vào ngõ cụt tăm tối. Nói như vậy không phải là hù dọa mà là sự thật đấy. Tôi đã chứng kiến những đau khổ của gia đình và bản thân nhiều sinh viên giỏi mà phải dừng bước trước cánh cổng tương lai, gục ngã và khóc tiếng khóc hối hận đau đớn vì đã không làm chủ được mình. Trong bài này, tôi chỉ dành để tâm sự với những sinh viên năm thứ nhất (năm dễ va vấp nhất). Mong giúp ích phần nào cho các sĩ tử sắp tới ngày tựu trường.

1, Nhận diện những thuận lợi, khó khăn của sinh viên năm đầu.
Điểm mạnh của sinh viên năm đầu: 

Trước hết đó là bạn đang tràn trề sinh lực  của tuổi trẻ, hăng hái, xông xáo, sẵn sàng chấp nhận thách thức.

Thứ hai, bạn đang trong trạng thái tâm lý thăng hoa vì vừa vượt qua một kỳ thi nghiệt ngã, bước chân lên bậc thang mới của giá trị đầy tự mãn.

Thứ ba, bạn rất nhạy cảm với cái mới, ham mê khám phá với những ước mơ được trải nghiệm. Thứ tư, bạn được tự do, tự quyết vì thoát ra khỏi sự giám sát của gia đình.

Điểm yếu của sinh viên năm đầu: 

Thứ nhất, bạn thiếu kĩ năng sống độc lập. Từ tấm bé đến lớp 12 bạn được gia đình, thầy cô, bạn than đùm bọc. Đôi khi vì thương con, các bậc phụ huynh không ngần ngại hy sinh để bao cấp cho bạn. Nhặt mớ rau, rửa cái bát cũng không cho bạn làm. Sự thật đáng thương là có bạn gái không biết đổ chừng nào nước để nấu cơm. Trong lúc đó, bây giờ bạn phải tự lập lấy tất cả. Đùng một cái, bạn đối mặt với cái gì cũng mới, bạn bè mới, cách sống tập thể với nhiều người lạ, ăn uống khác với ở nhà, thậm chí khí hậu cũng khác… làm bạn hoang mang, lo lắng.

Thứ hai, môi trường sống lạ lẫm với trăm nghìn thứ rắc rối, phức tạp mà nhiều bạn chưa gặp bao giờ, lành ít dữ nhiều, cái xấu rình rập với nhiều cám dỗ, trong lúc bạn chưa có trải nghiệm chút nào.

Thứ ba, bạn đang thiếu kinh nghiệm sống nhưng tâm lý lứa tuổi cho thấy bạn luôn hành động bốc đồng, cảm tính, bột phát, hay bị lôi cuốn bỡi tâm lý đám đông (nhất là lớp trước).

Thứ tư, bạn đang phải thích nghi với phương pháp học tập mới (phương pháp học ở bậc đại học) trong lúc mình chưa có chút kinh nghiệm nào. Khác với thời phổ thông, thầy “cầm tay chỉ việc”, bạn chỉ chấp nhận và làm theo. Bây giờ, thầy chỉ nêu vấn đề, chỉ hướng dẫn, còn bạn phải “tự học là chính”. Khối lượng kiến thức nhiều gấp bội, phải tự đọc, tự tổng hợp…

2. Những va vấp thường thấy ở sinh viên năm đầu.
 Về đạo đức, lối sống, bạn rất dễ bị nhiễm mấy tật xấu:

Uống rượu, bia vô cớ, quá đà. Thói xấu này thường bắt đầu do những sinh viên xấu năm trước lôi kéo. Lý do thì nhiều lắm, đồng hương, sinh nhật, nhân thể mua đôi giày mới…Nhiều cuộc vui quá đà dẫn đến ngủ quên, bỏ tiết, nợ học phần.

Xả hơi, thỏa mãn nên không lo học hành, tích lũy kiến thức, nợ học phần. Để trả nợ thì phải học lại, học lại thì phải trả tiền thầy. Nợ nhiều học phần thì lưu ban, lưu ban lần hai là buộc thôi học, dật dẹo trong các nhà trọ.

Đánh bạc, nhất là lô đề. Lúc đầu chỉ chơi khi sẵn tiền trong túi, chơi nhỏ thôi. Dần dà chơi ghi nợ, chơi “khát nước”, càng thua càng lao vào hy vọng gỡ lại, càng chết chìm (do lô dề là cầm chắc thất bại 99%);

Tiêu pha quá mức dẫn đến vay nợ. Sinh nhật mình, sinh nhật bạn phải có bia, có quà tặng mới oai. Nó mời mình thì mình mời nó, liên miên. Di động, ai phôn thay mốt, nâng cấp liên tục. Thỉnh thoảng hứng lên, sành điệu, rủ nhau “phượt”, ngủ qua đêm. Những khoản đó không thể trông chờ vào mấy sào ruộng của bố mẹ được, nên phải vay nóng, 30% tháng, 5% ngày, chơi tất. Vay một triệu đầu tháng, cuối tháng phải trả 1,3 triệu, cứ vậy lũy tiến lên, vài tháng thành chục triệu! Nhiều bạn, chủ nợ ép, đầu gấu đòi nợ thuê, chịu không thấu, bỏ học.

Yêu đương văng mạng, tán tỉnh, đi chơi đêm không phải xin phép ai. Sẵn có môi trương mới ong bướm lượn quanh con nào cũng đẹp. Sẵn có sức lực sung mãn của tuổi trăng rằm, khát khao tò mò giới tính. Tình phí nhiều, tiền không có. Lòng dạ vướng mắc không yên, chểnh mãng học hành. Vậy là trượt dốc.

Nghiện games, chẳng ai quản thời gian sinh hoạt của mình, học hành thì cuối kỳ mới thi, chưa có gì thúc bách. Đã nghiên games thì thường đi thâu đêm, sáng ra lên lớp ngủ gật, không ghi bài, copy của bạn. Chẳng có tí kiến thức nào trong đầu, chuyên môn lơ mơ. Tư thế tác phong bệ rạc.
Vậy đấy bạn ạ, tôi chưa nói đến chuyện rất xấu hổ đấy là mất cắp trong sinh viên. Tiền, di động, máy tính xách tay, giầy dép, quần áo đắt tiền không cánh mà bay. Một mất mười ngờ, nội bộ lục đục.

3. Vậy làm sao đây?

Bạn đừng quá hoang mang khi tôi liệt kê ra những mặt trái của sinh viên. Càng không thể vì thế mà thu mình lại, tự vệ, thu hẹp phạm vi giao tiếp, đóng kín cửa, biến mình thành kẻ ngoài cuộc.  Nói là để cảnh báo bạn thôi, chứ môi trường sinh viên rất nhiều điều hay, cái tốt. Đa số là tốt và rất sẵn lòng chia sẻ, giúp đỡ nhau. Vấn đề là bạn phải tỉnh táo để “chọn bạn mà chơi”. Và điều quan trọng hơn cả là phải trang bị cho mình những kĩ năng sống, kĩ năng học tập trong thời đại học, nhất là năm đầu tiên.

Trong một bài ngắn để nói đủ về kĩ năng sống thì không thể, bạn nên tìm kiếm trên mạng, học hỏi những người đi trước, nhất là thầy cô giáo. Đừng tự quyết khi còn điều gì đó chưa an tâm mà phải “gọi điện thoại cho người thân”. Nhất là bố mẹ hoặc thầy cô thời phổ thông. Tôi chỉ mách cho bạn mấy điều thế này:

Thứ nhất, đừng sĩ diện, đua đòi, thấy người ta có thì mình cũng đua. Xã hội bây giờ sự phân tầng mức sống rất xa. Cùng sinh viên với nhau nhưng có người “cái gì cũng có” và có người “chẳng có cái gì”. Chạy theo lối sống của người khác trong lúc mình chẳng có tiền là sai lầm. Cần phải ý thức được lối sống “phù hợp với điều kiên bản thân”. Hoàn cảnh mình như thế nào, mình sống vậy. Đừng thấy bạn có di động đắt tiền, mình cũng xoay xở để có. Nó cũng chỉ là cái phương tiện liên lạc thôi.

Thứ hai, đừng tập tọe, đánh đu với những tệ nạn rượu chè, cờ bạc, mại dâm. Những cái đó nó chưa giết bạn ngay, nhưng nó cho bạn nốc ao chỉ vài tháng. Cái này thì tôi đã nói ở trên rồi. Bạn cần giữ cho mình một “lối sống sạch”. Nếu chưa biết hút thuốc, uống rượu thì đừng tập. Thử đặt mình là người yêu của bạn xem, họ có thích ngồi bên cạnh một người từ mồm đến tóc sặc mùi thuốc lá và rượu. Ấy là tôi chưa nói lúc bạn say, lúc bạn dính vào ma túy. Thời gian rỗi nên giành cho thể thao, âm nhạc (đi học một cua ghi ta chẳng hạn). Bạn đừng mắc bẫy bọn cò mồi cờ bạc, đừng mơ giấc mơ đi @ mà chỉ cần một con đề. Đừng tưởng bạn học của bạn mà không bán đứng bạn cho chủ lô, đề. Vì hắn đã nợ ngập đầu, muốn giãn nợ thì phải lôi kéo người khác vào bẫy chủ đề. Câu chuyện này thì bạn nên đọc bài “Làng quê ký P2” của tôi ở trang Kiến Giang Xanh.

Thứ ba, nhớ câu “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” trong chọn bạn bè. Thời sinh viên, nhất là năm đầu, nhu cầu giao tiếp của bạn rất mạnh mẽ. Phần vì xa gia đình, phần vì đám bạn cũ thời học trò xa rồi, phần vì phải tạo dựng môi trường giao tiếp mới. Vì vậy phải kết bạn. Bạn tốt nên thơm, bạn xấu nên thối. Tốt nhất nên tránh xa những kẻ không thích học, chỉ thích bày trò vui vẻ. Có điều lạ là những người bạn thời đại học sẽ đi cùng bạn đến cuối đời, vậy nên đừng vô tâm, hời hợt. Kết bạn tốt, bền cũng có nguyên tắc đấy. Đó là, chân thành, tôn trọng, khoan dung, tương hỗ.

Đó là chuyện lối sống, còn chuyện học thì sao? Bạn yên tâm, bất cứ trường nào cũng có tiết học giới thiệu phương pháp học ở bậc đại học. Tôi chỉ ngắn gọn với bạn thế này, học ở bạc đại học lấy tự học làm chính. Ở phổ thông, một chương có thể thầy giảng một buổi, nhưng ở bậc đại học một buổi có thể học năm chương. Trên lớp bạn cần lắng nghe, ghi chép đủ những luận điểm, luận chứng, luận cứ của thầy. Về nhà phải đi đọc sách, đọc tài liệu mở rộng. Cuối mỗi bài (học phần), cần tóm tắt lại thành đề cương ngắn để ôn tập. Khi làm bài thi bạn phải trả lời đủ những ý chính của đề cương. Còn thời gian thì viết thêm văn hoa rằng mà thì là. Bạn xem đáp án chấm bài thi tuyển sinh thì biết cách cho điểm của thầy, đếm ý ăn điểm. Các bạn học khoa học tự nhiên thì phải làm nhiều bài tập.

Tôi rất yêu các bạn sinh viên, nhất là sinh viên năm đầu hồn nhiên, trong trắng. Vậy nên muốn tâm sự với các bạn ngay khi mới bước chân đến cổng trường ĐẠI HỌC để giữ cho bạn nét đáng yêu của tuổi học trò. Chúc các bạn thành nhân.

CHÀNG LƯU LY

Ngọc Tuân


(Nhân chuyện xây dựng văn hóa nông thôn mới)
1. Thần rượu.
Chẳng biết tự bao giờ Nhà nước ta bỏ lệnh cấm nấu rượu lậu. Hình như từ sau thời bao cấp nghiệt ngã, sản xuất được bung ra và rượu cũng bung ra. Rồi rượu lậu chảy về từng ngõ xóm vì nó thu tiền nhanh mà chẳng mấy mệt nhọc. Bã rượu cho chăn nuôi. Ông chủ có cái uống miễn phí. Đại tiện! Uống rượu được làm tiêu chí đánh giá năng lực cán bộ. Rượu tây làm món quà biếu xếp. Rượu ta nấu lậu ở tây Nga Xô, có kẻ đã phất lên đến hạng chủ chợ. Và cũng chẳng biết tự bao giờ ngày nông nhàn dài đằng đẵng đã kéo ông nông dân xứ thôn dã đến với nàng lưu linh. Từ chỗ tôi say, anh say, nó say đến cả họ say! Lũ trẻ con nhà quê cũng chung tiền lẻ mua xị rượu với mấy quả cóc vặt trộm, ngồi bến sông chén tạc, chén thù. Đêm thì mò mẫm nhảy tường, bắt trộm gà, bán. Người quê làm thơ “Cám ơn tổ tiên sinh ra rượu; Để cho con cháu suốt đời say”.
Xem ra, từ thời thuộc Pháp, vào ngày 20 tháng 12 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định 138 về nấu, vận chuyển, bán rượu. Phạt nặng những ai nấu rượu mà không có giấy phép, không đúng độ cồn quy định, không đóng chai đúng loại, không dán tem, bán rượu mà không có giấy phép… Dưới thời ta, từ những năm 60, 70 cũng có lệnh cấm nấu rượu lậu. Đến năm 2008 Chính Phủ có Nghị Định 40 ngày 7/4/2008 Quy định về sản xuất, kinh doanh rượu. Nghị định cũng có đến 6 chương 33 điều quy định mạch lạc lắm. Chỉ có điều có đổi mới cho dân chủ, Không cấm ngặt như trước mà cho phép “sản xuất rượu thủ công tự tiêu dùng”. Có hẳn 1 điều 16 về sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh. Vậy là hòa cả làng, văn tự xứ mình hay thật. Rồi cũng có phân công trách nhiệm quản lý, kiểm tra, xử phạt. Có cấm việc tự nấu rượu thủ công để bán. Đủ cả. Nhưng bây giờ cả ông làm ra luật đến ông thi hành luật thi nhau uống rượu tây. Đến mức ví von “bãi nôn bằng tấn thóc”. Chai rượu trung bình có giá vài chục triệu thì ông nông dân nhà quê phải nấu bằng 4 – 5 tấn thóc chẳng chơi.
Hệ lụy thì đã rõ, nếu vào Google gõ câu lệnh “những vụ án có nguyên nhân từ rượu” thì có đến hàng ngàn vụ rùng rợn có, đau thương có, phẩn uất có… Đạo đức suy đồi, cha giết con, vợ giết chồng, chồng giết vợ, cậu cháu cùng hiếp dâm một đứa trẻ, hai thằng bé say rượu hiếp một bà 72 tuổi, đến lần thứ 2 bị bắt quả tang, yêu râu xanh làm hại bé gái 6 tuổi, 4 cậu ấm sinh viên đâm chết bạn nhậu, tai nạn giao thông mỗi ngày cướp đi 30 sinh mạng (vị chi 1 tháng 1000 người) phần nhiều có nguyên nhân từ rượu…viết ra sợ đến rung mình.
Cảnh báo thì đã có nhiều, Thống kê nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Hà Nội cho biết tỉ lệ nghiện rượu trên 16 tuổi ở nước ta chiếm 3,5 %. Vậy là cứ 100 người Việt trên 16 tuổi thì có ba người rưỡi nghiện rượu. Tỉ lệ này ở nông thôn cao hơn thành thị. Giới khoa học cũng đã dương kính lên nghiên cứu, phân tích cách hấp thụ, đào thải rượu của cơ thể người. Đi vào tận khoa tâm thần bệnh viện nghiên cứu tác hại tức thời và lâu dài của rượu. Họ cho biết rằng rượu là thứ được hấp thụ trực tiếp vào máu không cần thông qua quá trình tiêu hóa. Để đào thải rượu thì phải chuyển hóa ở gan. Mức độ giải rượu của gan chỉ khoảng 15ml/giờ (tương đương 1 lon bia, 30ml rượu 50 độ). Như vậy, với kiểu uống dô dô của ta thì quá tải lớn. Làm khổ anh GAN.
Tác hại tức thời của rượu là hệ thần kinh, thay đổi suy nghĩ, nói năng hăng hái, phóng đại, đi đứng loạng quạng, nói nhảm, ngã gục, ngủ say không biết gì. Trên hệ tiêu hóa thì gây phản ứng tự vệ sống bằng cách nôn, rối loạn tiêu hoa, viêm dạ dày cấp, chảy máu đường tiêu hóa, viêm tụy. Trên hệ tim mạch thì gây cơn cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến não, đột quy.
Tác hại lâu dài của rượu là gây nghiện rượu, đến xơ gan do rượu, ung thư gan (nhất là với những người có tiền sử viêm gan B. Mà vi rút viêm gan B có trong 70% người Việt). Rồi các bệnh lý về tiêu hóa, tim mạch, nội tiết, dinh dưỡng. Người nghiện rượu, đòi hỏi sẽ ngày càng nhiều và khi đã hơi thiếu rượu đã có triệu chứng: tim đập nhanh, vã mồ hôi, bồn chồn, run rẫy chân tay, bứt rứt khó chịu, rối loạn giấc ngủ. Nặng hơn là động kinh, ảo giác. Ông Nguyễn Viết Hoàn ở Hoàn Kiếm Hà Nội, sau 10 năm uống rượu, tâm thần hoang tưởng thấy rắn bò khắp người. Một lần thấy một đàn rắn đeo lấy các ngón tay ông mà cắn. Vậy là ông cầm dao chặt từng ngón tay, vừa chặt vừa cười. Hàng xóm khiếp đảm.
Gần đây, giới quan chức có tiền của, sau một thời được đánh giá có năng lực, bị gút, tiểu đường hoành hành đã khôn ngoan cự tuyệt rượu, bia. Cực chẳng đã thì uống rượu vang thôi. Chỉ còn đám dân đen, thiếu học hành vẫn lao vào như thiêu thân. Văn hóa “ĂN” vẫn còn nặng nề lắm, ăn cưới, ăn đám ma, ăn nhà mới, ăn đẻ. Cái ăn thấm sâu vào máu đến nỗi đổi tiền cũng 1 đồng ăn bao nhiêu Đola. Sinh viên có học thì ít tiền, cũng ăn mà là ăn sinh nhật, ăn ngày lễ, ăn mừng qua mùa thi, ăn mừng mua đôi giày mới. Tiền ít thì uống rượu đế. Cứ đến gần nửa đêm các chiếu rượu vỉa hè bày ra la liệt. Con mực bé xíu bằng cái đồng xu, 20 ngìn, chỉ để làm phương tiện quệt nước mắm, tương ớt. Mùi mực nướng bay qua chiếu bên là oai rồi.
Dẫu sao cũng cần có một lệnh cấm rượu mới ở ông NHÀ NƯỚC.
Còn câu chuyện cờ bạc xem hồi sau sẽ rõ.

TÌM HIỂU VỀ THIÊN CAN, ĐỊA CHI, 

LỤC THẬP HOA GIÁP

THUYẾT ÂM DƯƠNG, NGŨ HÀNH
1. Âm dương là 2 mặt đối lập, mâu thuẫn, thống nhất, chuyễn hóa lẫn nhau, dựa vào nhau mà tồn tại, triệt tiêu thay thế nhau. Trong dương có mầm mống của âm, trong âm có mầm mống của dương. Âm dương có cả trong thế giới hữu hình và vô hình.
2. Ngũ hành
Có 5 hành; Hỏa (lửa); Thổ (đất); Kim (kim loại); Thủy (nước); Mộc (cây cỏ)
2.1. Ngũ hành sinh:
- Thủy sinh mộc-     Màu xanh
- Mộc sinh hỏa  -     Màu đỏ
- Hỏa sinh thổ   -     Màu vàng
- Thổ sinh kim  -     Màu trắng
- Kim sinh thủy -     Màu đen
2.2. Ngũ hành khắc:
- Mộc khắc thổ  -     Tụ thắng tán
- Thổ khắc thủy -     Thực thắng hư
- Thủy khắc hoả -    Chúng thắng quả. Nhiều thắng ít
- Hỏa khắc kim  -    Tinh thắng kiên
- Kim khắc mộc -    Cương thắng nhu.

CAN CHI VỚI NGŨ HÀNH, TỨ PHƯƠNG
1. Can với ngũ hành, tứ phương: Kết hợp từng cặp. Thể hiện Thiên khí
- Giáp          Dương mộc              Phương Đông
- Ất              Âm mộc                            -
- Bính          Dương hỏa               Phương  Nam
- Đinh          Âm hỏa                            -
- Mậu           Dương thổ              Trung ương
- Kỷ              Âm thổ                            -
- Canh         Dương kim              Phương Tây
- Tân           Âm kim                             -

- Nhâm        Dương thủy             Phương Bắc
- Quý           Âm thủy                           -

2. Chi với ngũ hành, tứ phương.
- Hợi            Âm thủy                  Phương Bắc
- Tý              Dương thủy                     -
- Dần            Dương mộc            Phương Đông
- Mão           Âm mộc                           -
- Tỵ              Âm hỏa                  Phương Nam
- Ngọ            Dương hỏa                      -
- Thân           Dương kim           Phương Tây
- Dậu            Âm kim                            -
- Sửu            Âm thổ                  Bốn phương
- Thìn           Dương thổ                        -
- Mùi            Âm thổ                             -
- Tuất           Dương thổ                        -

3.Biểu đồ xung khắc hại hóa hàng chi
Để cho dễ nhớ, chúng ta lấy bàn tay làm “sách”. Chỉ lấy 4 ngón (út, nhẫn, giữa, trỏ). Tương ứng với các vị trí đốt ngón tay là quy ước sau:

Tị Ngọ Mùi

Thân


Thìn



Dậu


Mão


Tuất


Dần


Sửu




Hợi
(ng. trỏ) (ng. giữa)(ng.nhẫn) (ng. út)  

Chỗ đeo nhẫn là Tý, theo chiều kim đồng hồ mà lần lượt: Sữu, Ngọ, Mùi… (Chỗ quy ước là các chỉ ngăn cách đốt)

Thiên can, địa chi là gì?

1. Mười thiên can: Theo thứ tự từ 1 đến 10 là:
Giáp(1), ất (2), bính (3), đinh(4), mậu (5) kỷ (6), canh(7), tân (8), nhâm (9), quí (10).
- Số lẻ là dương can (giáp, bính mậu, canh, nhâm)
- Số chẵn là âm (ất, đinh, kỷ, tân, quí)
- Ngày lẻ (dương can) là ngày cương (đối ngoại)
- Ngày chẵn (âm can) là ngày cương (đối nội)
- Những cặp đối xung: Giáp và kỷ, ất và canh, bính và tân, đinh và nhâm, mậu và quí.
2. Mười hai địa chi:
Theo thứ tự từ 1 đến 12 là : Tý (1), sửu (2), dần (3) , mão (4), thìn (5), tỵ (6), ngọ (7), mùi (8), thân (9),dậu (10), tuất (11), hợi (12).
- Số lẻ là dương chi chỉ kết hợp với âm can.
- Ví dụ: Giáp tý, canh ngọ....
- Số chẵn là âm chi chỉ kết hợp với âm can
Ví dụ: Tân sửu, quí mùi...
- Những cặp đối xung: Tý và ngọ, sửu và mùi, dần và thân, mão và dậu, thìn và tuất, tị và hợi (nghĩa là hơn kém nhau 6).
- Tương hợp: có hai loại, nhị hợp và tam hợp.
Nhị hợp: Tý - sửu, Mão - tuất, Tị - thân, Dần- hợi, Thìn- dậu, Ngọ- mùi
Tam hợp: Thân - tý - thìn, Dần - ngọ- tuất, Hơi- mão - mùi, Tị -dậu - sửu
Như vậy mỗi chi chỉ có một xung (ví dụ tý xung ngọ), ba hợp (ví dụ tý hợp sửu, tý hợp với thân và thìn)

Lục thập hoa giáp. Cách tính năm, tháng, ngày, giờ theo can chi

Lục thập hoa giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60
Cách tính năm, tháng, ngày, giờ đều theo hệ số đó, gọi là lịch can chi. có 6 chu kỳ hàng can tức là có 6 giáp mà mỗi chu kỳ hàng can hay mỗi giáp gồm 10 can (đó là: Giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quí) nên gọi là lục thập hoa giáp.
Năm: Hết một vòng 60 năm từ giáp tý đến quí hợi. Từ năm thứ 61 trở lại giáp tý, năm thứ 121,181 ... cũng trở lại giáp tý. Đó là một điều trở ngại cho việc nghiên cứu sử, nếu không ghi chiều vua nào thì rất khó xác định. Một gia đình có ông và cháu cùng một tuổi, có khi tính tuổi cháu nhiều hơn tuổi ông, vậy nên khi tình thành dương lịch cần phải chú ý cộng trừ bội số của 60.
Con số cuối cùng của năm dương lịch ứng với các can:
0: canh (ví dụ canh tý 1780)
1: Tân
2: nhâm
3: quí
4: giáp
5; ất (ví dụ ất dậu 1945)
6: bính
7: đinh
8: mậu
9: Kỷ
Tháng: Tháng giêng âm lịch luôn luôn là tháng dần, tháng hai là mão, cứ tuân theo thứ tự đó đến tháng 11 là tý, tháng chạp là Sửu (12 tháng ứng với 12 chi).
Tháng giêng của năm có hàng can giáp hoặc kỷ (ví dụ năm giáp tý, kỷ hợi) là tháng bính dần.
Tháng giêng của năm có hàng can bính, tân là tháng canh dần
Tháng giêng của năm có hàng can đinh, nhâm là tháng nhâm dần.
Tháng giêng của năm có hàng can mậu quí là tháng giáp dần
Trường hợp năm có tháng nhuận thì cứ theo tháng chính (không đổi).
Ngày: ngày âm lịch và ngày can chi chênh lệch nhau rất khó xác định. vị âm lịch trong 19 năm có 7 tháng nhuận, lại có tháng đủ 30 ngày tháng thiếu 29 ngày theo trình tự không nhất định, nên tính ngày can chi theo dương lịch dễ hơn (xem bảng cách đổi ngày can chi sang ngày dương lịch).
Giờ: một ngày đêm có 24 giờ nhưng theo can chi chỉ có 12 giờ. Giờ tý (chính tý lúc 0 giờ). Giờ ngọ (chính ngọ lúc 12 giờ trưa).
Ban ngày tính giờ dần (tức 4 giờ sáng) đến giờ thân lúc 4 giờ chiều. Ban đêm tính từ giờ dậu đến hết giờ sửu. Nếu theo lịch can thì bắt đầu từ 23 giờ 30 phút đã sang giờ tý của ngày hôm sau.
Kết hợp Lục thập hoa giáp với Âm Dương ngũ hành để tính tuổi xung khắc với ngày, tháng, năm can chi định chọn:
Tương xung: Có Lục xung hàng chi:
- Tý xung ngọ
- Sửu xung Mùi
- Dần xung Thân
- Mão xung Dậu
- Thìn xung Tuất
- Tị Xung Hợi
Và tứ xung hàng can:
- Giáp xung canh,
- ất xung tân,
- bính xung nhâm,
- đinh xung quí, (mậu kỷ không xung).
Nhưng khi kết hợp lục thập hoa giáp theo hệ số 60, có 5 lần hàng chi (12) gặp 6 hàng can (10), quy vào ngũ hành tính tương sinh tương khắc thì có 1 lần tương hoà, 2 lần tương sinh, chỉ còn lại 2 lần xung khắc (hàng chi).
Thí dụ: Tính xem ngày (hoặc tháng, hoặc năm) giáp tý xung khắc với tuổi nào?
Tính hàng chi: tý xung ngọ, vậy giáp tý (xung với giáp ngọ, canh ngọ, bính ngọ, nhâm ngọ, và mậu ngọ)
Xem bảng "Kết hợp Lục thập hoa giáp với Ngũ hành" ta thấy:
Giáp tý thuộc kim:
Giáp ngọ thuộc kim vì thế tương hoà.
Canh ngọ thuộc thổ, bính ngọ thuộc thuỷ vì thế đều tương sinh chỉ có nhâm ngọ thuộc mộc, mậu ngọ thuộc hoả là tương khắc.
Tính hàng can: Giáp xung canh.
Giáp tý thuộc kim:
Canh tuất, canh thìn đều thuộc kim vì thế tương hoà
Canh tý, canh ngọ đều thuộc thổ đều tương sinh
Chỉ có canh Dần và canh thân thuộc mộc là tương khắc.
Vậy ngày (hoặc tháng năm), giáp tý chỉ có 4 tuổi xung khắc là nhâm ngọ, mậu ngọ, canh dần, canh thân:
Tương hình: Theo hàng chi có :
- tý và mão (một dương, một âm điều hoà nhau).
- Tỵ và dần thân (tị âm điều hoà được với dần thân dương, chỉ còn dần và thân tương hình nhau, nhưng đã tính ở lục xung ).
Theo luật điều hoà âm dương, chỉ khắc nhau trong trường hợp cả hai đều âm hoặc cả hai đều dương. Vì vậy chỉ còn lại 2 trường hợp tự hình nhau: Thìn với thìn, ngọ với ngọ.
Tương hại: cũng là xấu. có 6 cặp tương hại nhau:
Tý và mùi, sửu và ngọ, dần và tị, mão và thìn, thân và hợi, dậu và tuất.
Nhưng khi kết hợp với can chi, theo luật âm dương, tự triệt tiêu.
-Tóm lại: Tính cả xung, khắc, hình, hại, trong số 60 can chi, chỉ có 2-4 ngày không hợp mệnh thôi, hơn nữa còn tuỳ theo mức độ xung khắc mạnh hay yếu (tuỳ theo bản mệnh).
Để tìm năm âm lịch khi biết năm sinh dương lịch hãy lập bảng sau để đối chiếu:
Lấy năm dương lịch trừ đi bội số của 60 còn số dư, đối chiếu với bảng thì ra năm âm lịch.
Vd: năm 1996. (60 * 33 = 1980). 1996-1980= 16. Đấy là năm Bính Tý


Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý   
04
16
28
40
52
Sửu
05
17
29
41
53
Dần 54
06
18
30
42
Mão
55
07
19
31
43
Thìn 44
56
08
20
32
Tỵ
45
57
09
21
33
Ngọ 34
46
58
10
22
Mùi
35
47
59
11
23
Thân 24
36
48
00
12
Dậu
25
37
49
01
13
Tuất 14
26
38
50
02
Hợi
15
27
39
51
03

Ngọc Tuân